Tagrix 80

0 đã xem

Giá liên hệ

Thuốc 💊Tagrix 80mg được sử dụng để điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ ở giai đoạn tiến triển hoặc di căn mà có đột biến EGFR T790M.
Hộp 3 vỉ x 10 viên Xuất xứ: Ấn Độ
Thương hiệu Beacon Pharmaceutical
Cách dùng ? Dùng đường uống
Đối tượng? Người lớn, người già
Thời điểm sử dụng? Dùng trong bữa ăn
Phụ nữ có thai và cho con bú? Không được dùng
[su_label type=”important”]212,667 đ/viên[/su_label][su_label type=”important”]6,380,010 đ/hộp 30 viên[/su_label]

[su_column size=”1/1″ center=”no” class=””][su_button url=”https://mypill.vn/gui-don-thuoc/” background=”#ffffff” color=”#008000″ icon=”icon: facebook-messenger” icon_color=”#008000″ desc=”Gửi đơn thuốc và nhận thuốc tại nhà“]Dịch vụ  MyPill™[/su_button][/su_column]

Sản phẩm đang được chú ý, có 4 người thêm vào giỏ hàng & 17 người đang xem

Nhà thuốc Bạch Mai cam kết

  • 100% sản phẩm chính hãng
  • Đổi trả hàng trong 30 ngày
  • Xem hàng tại nhà, thanh toán

[su_expand more_text=”Xem hướng dẫn sử dụng đầy đủ thuốc” less_text=”Xem ít hơn” height=”300″ hide_less=”yes” link_style=”button” less_icon=”icon: sign-in”]

Bạn đang muốn tìm hiểu về thuốc Tagrix 80 được chỉ định điều trị cho bệnh gì? Những lưu ý quan trọng phải biết trước khi dùng thuốc Tagrix 80 và giá bán thuốc Tagrix 80 tại hệ thống nhà thuốc Bạch Mai?. Hãy cùng Nhà thuốc Bạch Mai tham khảo thông tin chi tiết về thuốc Tagrix 80 qua bài viết ngay sau đây nhé !

Tagrix 80 là thuốc gì ?

Thuốc 💊Tagrix 80mg là thuốc dùng theo đơn, được sử dụng để điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ ở giai đoạn tiến triển hoặc di căn mà có đột biến EGFR T790M.

Thành phần của thuốc Tagrix 80

Thành phần hoạt chất:

Mỗi viên chứa 95,4 mg osimertinib mesylate tương đương với 80 mg osimertinib

Thành phần dược: dược với tác dụng đã biết. Thuốc chứa 0,3 mg natri trong mỗi viên 40 mg 0,6 mg natri trong mỗi viên 80 mg.

Nhân viên: mannitol, microcrystalline cellulose, lowsubstituted hydroxypropyl cellulose, sodium stearyl fumarate.

Lớp bao: polyvinyl alcohol, titanium dioxide (E 171), macrogol 3350, talc, oxide sắt vàng (E 172), oxide sắt đỏ (E 172), oxide sắt đen (E 172)

DẠNG O CHẾ 

Viên nén bao phim

Tagrix 80 mg Viên màu be, hình bầu dục, kích thước 7,25 x 14,5 mm, hai mặt lồi, khắc 80ở một mặt một mặt trơn

QUY CÁCH ĐÓNG GÓI

Hộp 3 vỉ x 10 viên nén bao phim 

Công dụng của thuốc Tagrix 80

Tagrix 80 đơn trị liệu được chỉ định cho

– điều trị bước 1 bệnh nhân trưởng thành ung thư phổi loại không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di căn đột biến hoạt hóa thụ thế yếu tố phát triển biểu (EGFR)

– điều trị bệnh nhân trưởng thành ung thư phổi loại không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di căn đột biến EGFR T790M dương tính.

Cách dùng – liều dùng của thuốc Tagrix 80

Xem thêm

Điều trị bằng Tagrix nên được bắt đầu với bác sỹ kinh nghiệm trong trị liệu kháng ung thư

Khi xem xét dùng Tagrix, tình trạng đột biến EGFR trong mẫu khối u hoặc huyết tương nên được xác định bằng phương pháp xét nghiệm đã được công nhận (xem phần Cảnh báo thận trọng khi dùng thuốc)

Liều lượng

Liều khuyến cáo 80 mg osimertinib, 1 lần/ngày cho đến khi bệnh tiến triển trở lại hoặc xuất hiện độc tính phản ứng ngoại ý không thể chấp nhận

Nếu quên 1 liều Tagrix, nên uống thuốc ngay trừ phi liều kế tiếp sẽ được dùng trong vòng 12 giờ. Tagrix thể uống kèm hoặc không kèm thức ăn tại cùng một thời điểm mỗi ngày

Điều chỉnh liều

thể cần ngưng liều và/hoặc điều chỉnh liều dựa trên mức độ an toàn dung nạp của mỗi nhân. Nếu cần giảm liều, nên giảm xuống liều 40 mg, 1 lần/ngày

Hướng dẫn giảm liều khi gặp độc tính phản ứng ngoại ý được trình bày trong Bảng 1.

Bảng 1. Thông tin khuyến cáo điều chỉnh liều Tagrix

Cơ quan đích  Phản ứng ngoại ý * Chỉnh liều
Phổi 

Bệnh phổi mô kẽ (TLD)/Viêm phổi không do nhiễm trùng

Ngưng Tagrix (xem phần “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc 
Tim  Khoảng QTc lớn hơn 500 mili giây trên tối thiểu 2 lần đo ECGs riêng biệt Ngưng dùng TAGRIsso cho đến khi khoảng  QTc nhỏ hơn 481 mili giây hoặc hồi phục về mức cơ bản nêu mức cơ bản QTc lớn hơn hoặc bằng 481 mili giây, sau đó khởi đầu lại với liều giảm (40 mg)
Khoảng QTc kéo dài kèm dấu  hiệu/triệu chứng loạn nhịp trầm trọng Ngưng vĩnh viễnTagrix
Khác  Phản ứng ngoại ý cấp độ 3 hoặc lớn hơn  Ngưng dùng Tagrix cho đến 3 tuần
Nếu phản ứng ngoại ý cấp độ 3 hoặc lớn hơn được cải thiện xuống cấp độ 0-2 sau khi ngưng dùng Tagrix cho đến 3 tuần Có thể khởi đầu lại Tagrix với cùng liều (80 mg) hoặc liều giảm (40 mg)
Nếu phản ứng ngoại ý cấp độ 3 hoặc  lớn hơn không được cải thiện xuống cấp độ 0-2 sau khi ngưng dùng Tagrix cho đến 3 tuần.  Ngưng vĩnh viễn Tagrix

a Ghi chú: cấp độ phản ứng ngoại ý trên lâm sàng dựa trên Tiêu chuẩn Đánh giá các biến cố bất lợi (CTCAE) phiên bản 4,0 của Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ (NCI).

ECGs: điện tâm đồ; QTc: khoảng QT điều chỉnh trên nhịp tim 

Các nhóm bệnh nhân đặc biệt

Không cần chỉnh liều do tuổi, cân nặng, giới tính, chủng tộc hoặc tình trạng hút thuốc của bệnh nhân (xem phần Đặc tính dược động học)

Bệnh nhân suy gan

Dựa trên các nghiên cứu lâm sàng, không cần điều chỉnh liều bệnh nhân suy gan nh(Child Pugh A) hoặc suy gan trung bình (Child Pugh B). Tương tự, dựa vào phân tích trên dân số đánh giá dược động học, không cần điều chỉnh liều bệnh nhân suy gan nhẹ (tổng bilirubin & giới hạn trên của mức bình thường (ULN) và men aspartate aminotransferase (AST) >ULN hoặc tổng bilirubin >1,0 đến 1,5x ULN xuất hiện AST) hoặc bệnh nhân suy gan trung bình (tổng bilirubin từ 1,5 đến 3 lần ULN xuất hiện AST). Hiệu quả tính an toàn của thuốc chưa được thiết lập trên bệnh nhân suy gan nặng. Cho đến khi có dữ liệu mới, không khuyến cáo dùng trên bệnh nhân suy gan nặng (xem phần Đặc tính dược động học)

Bệnh nhân suy thận

Dựa vào các nghiên cứu lâm sàng phân tích trên dân số đánh giá dược động học, không cần chỉnh liều bệnh nhân suy thận nhẹ, trung bình hoặc nặng. Tính an toàn hiệu quả của thuốc chưa được thiết lập bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối [độ thanh thải creatinin (CLcr) thấp hơn 15 mL/phút được tính theo công thức Cockcroft and Gault] hoặc đang lọc máu. Nên thận trọng khi điều trị cho bệnh nhân suy thận nặng bệnh thận giai đoạn cuối (xem phần Đặc tính dược động học)

Trem

Tính an toàn hiệu quả của Tagrix trẻ em trẻ vị thành niên < 18 tuổi chưa được thiết lập. Hiện chưa dữ liệu

Cách dùng

Thuốc dùng đường uống. Nuốt nguyên viên với nước không được nghiền, bẻ hoặc nhai

Trường hợp bệnh nhân không thể nuốt nguyên viên thuốc, thể phân tán viên thuốc trong 50 ml nước không chứa carbonate. Thả nguyên viên thuốc vào nước, không được nghiền, khuấy đều cho đến khi thuốc phân tán uổng dịch thuốc ngay lập tức. Nên dùng thêm nửa ly nước tráng ly để đảm bảo không còn cặn thuốc uống ngay. Không dùng thêm bất kỳ chất lỏng nào khác

Nếu cần dùng qua đường ống thông dạ dày, nên theo quy trình như trên nhưng lượng nước dùng s15 ml lần pha đầu 15 ml khi tráng cặn. Tổng hợp 30 ml chất lỏng sẽ được dùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ống thông dạ dày với lượng nước tráng ống thông (water flushes). Nên dùng dịch phân tán tráng cặn trong vòng 30 phút kể từ khi thuốc được pha vào nước.

Không dùng thuốc Tagrix 80 trong trường hợp sau

Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ dược nào liệt tại phần Thành phần dược

Thuốc St. Johns Wort không nên dùng chung với Tagrix (xem phần Tương tác, tương kỵ của thuốc)

Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc Tagrix 80

Biafine Emulsion 93g
Bạn đang muốn tìm hiểu về thuốc Biafine Emulsion 93g được chỉ...
120.000

Thận trọng 

Đánh giá tình trạng đột biến EGFR Khi xem xét dùng Tagrix để điều trị cho bệnh nhân ung thư phổi loại không tế bào nh(NSCLC) giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di căn, việc xác định tình trạng đột biến EGFR dương tính rất quan trọng. Nên thực hiện một xét nghiệm đã được công nhận bằng cách sử dụng mẫu DNA khối u lấy từ mẫu hoặc mẫu DNA khối u trong hệ tuần hoàn (ctDNA) thu thập từ mẫu huyết tương

Chỉ dùng các phương pháp xét nghiệm độ tái lặp, độ tin cậy, độ nhạy cùng với tính ứng dụng (utility) đã được kiểm chứng để xác định tình trạng đột biến EGFR của mẫu DNA khối u (từ mẫu mô hoặc mẫu huyết tương)

Việc xác định tình trạng dương tính của đột biến EGFR sử dụng xét nghiệm trên mẫu mô hoặc mẫu huyết tương sẽ cho biết đủ điều kiện điều trị với Tagrix. Tuy nhiên, nếu sử dụng xét nghiệm mẫu DNA khối u trong hệ tuần hoàn dựa trên mẫu huyết tương kết quả âm tính, khuyến cáo nên theo dõi tiếp bằng xét nghiệm từ mẫu nếu thể khả năng xét nghiệm mẫu huyết tương cho kết quả âm tính giả

Bệnh phổi mô kẽ (TLD)

Bệnh phổi mô k(ILD) trầm trọng/đe dọa đến tính mạng/gây tử vong hoặc phản ứng ngoại ý giống ILD (như viêm phổi không do nhiễm trùng) đã được ghi nhận bệnh nhân dùng Tagrix trong các nghiên cứu lâm sàng. Hầu hết các trường hợp được cải thiện hoặc biến mất khi ngưng điều trị. Bệnh nhân tiền sử ILD trước đây, đã dùng thuốc gây ILD, viêm phổi do xạ trị yêu cầu dùng steroid hoặc bất kỳ bằng chứng ILD tiến triển trên lâm sàng đã được loại trừ khỏi các nghiên cứu lâm sàng này (xem phần Tác dụng không mong muốn của thuốc)

Đã ghi nhận bệnh phổi mổ kế (ILD) hoặc phản ứng ngoại ý giống ILD (như viêm phổi không do nhiễm trùng) 3,9% bệnh nhân tử vong 0,4% trên tổng số 1142 bệnh nhân dùng Tagrix trong c nghiên cứu FLAURA AURA. Tần suất xảy ra ILD 10,4% bệnh nhân người Nhật bản, 1,8bệnh nhân Châu Á và 2,8% nhóm bệnh nhân không thuộc chủng tộc Châu Á (xem phần c dụng không mong muốn của thuốc)

Cần đánh giá thận trọng để loại trừ ILD đối với tất cả bệnh nhân khởi phát cấp tính triệu chứng đường hấp (khó thở, ho, sốt) và/hoặc các triệu chứng này trở nên nặng hơn không giải thích được. Nên ngưng điều trị bằng thuốc này trong khi đang kiểm tra các triu chứng trên. Nếu đã chẩn đoán ILD, nên ngưng Tagrix bắt đầu các liệu pháp điều trị cần thiết. Việc sử dụng lại Tagrix chỉ nên được xem xét sau khi cân nhắc cẩn thận lợi ích nguy của từng bệnh nhân

Hội chứng Stevens-Johnson

Các báo cáo ca lâm sàng của hội chứng StevensJohnson (SJS) hiếm khi được ghi nhận liên quan đến điều trị Tagrix. Trước khi bắt đầu điều trị, bệnh nhân nên được thông báo về các dấu hiệu triệu chứng của hội chứng SJS. Nếu xuất hiện các dấu hiệu triệu chứng gợi ý về hội chứng SJS, nên ngưng tạm thời hoặc ngừng Tagrix ngay lập tức

Kéo dài khoảng QTc

Khoảng QTc kéo dài xuất hiện trên bệnh nhân dùng Tagrix) thể dẫn đến tăng nguy nhịp nhanh thất (như xoắn đỉnh) hoặc tử vong đột ngột. Không có biến cố loạn nhịp nào được ghi nhận trong các nghiên cứu FLAURA hoặc AURA (xem phần Tác dụng không mong muốn của thuốc). Bệnh nhân bất thường về nhịp dẫn truyền nặng trên lâm sàng khi đo điện tâm đồ lúc nghỉ (ECG) (như khoảng QTc lớn hơn 470 ms) đã được loại trừ trong các nghiên cứu này (xem phần c dụng không mong muốn của thuốc)

Khi thể, nên tránh dùng osimertinib trên bệnh nhân hội chứng QT kéo dài bẩm sinh. Nên theo dõi định kỳ điện tâm đồ (ECGs) chất điện giải trên bệnh nhân suy tim sung huyết, rối loạn điện giải hoặc bệnh nhân đang dùng thuốc đã biết làm kéo dài khoảng QTc. Nên ngưng điều trị bệnh nhân khoảng QTc lớn hơn 500 mili giây được ghi nhận trên ít nhất 2 lần đo điện tâm đồ tách biệt cho đến khi khoảng QTc nhỏ hơn 481 mili giây hoặc phục hồi về trị số căn bản nếu khoảng QTc lớn hơn hoặc bằng 481 mili giây, sau đó có thể dùng lại Tagrix mức liều giảm như trình bày tại Bảng 1. Nên ngưng osimertinib vĩnh viễn bệnh nhân khoảng QTc kéo dài đi kèm với các biến cố sau: xoắn đỉnh, nhịp nhanh thất đa dạng, dấu hiệu triệu chứng loạn nhịp trầm trọng

Thay đổi tính co thắt cơ tim

Trong các nghiên cứu lâm sàng, phân suất tống máu thất trái (Left Ventricular Ejection Fraction LVEF) giảm > 10% một sự sụt giảm đến < 50% đã xảy ra trong 3,9% (35/908) bệnh nhân dùng Tagrix, là những người đánh giá LVEF khi khởi đầu điều trị tối thiểu 1 lần theo dõi sau đó. Trên bệnh nhân các yếu tố nguy trên tim những người các tình trạng thể ảnh hưởng đến LVEF, nên xem xét theo dõi tim, bao gồm đánh giá LVEF khi khởi đầu (at baseline) trong khi điều trị. Trên bệnh nhân dấu hiệu/triệu chứng tim liên quan trong khi điều trị, việc theo dõi tim bao gồm đánh giá LVEF nên được xem xét

Viêm giác mạc

Viêm giác mạc đã được ghi nhận 0,7% (n=8) trên tổng số 1142 bệnh nhân điều trị bằng Tagrix trong các nghiên cứu FLAURA và AURA. Nên thăm khám bác sỹ chuyên khoa mắt ngay lập tức khi bệnh nhân các dấu hiệu triệu chứng nghi ngờ viêm kết mạc như tình trạng cấp hoặc trầm trọng hơn của viêm mắt, chảy nước mắt, nhạy cảm ánh sáng, mờ mắt, đau mắt và/ hoặc mắt đỏ (xem phần Cách dùng, liều dùng Bảng 1)

Độ tuổi và cân nặng

Bệnh nhân cao tuổi (> 65 tuổi) hoặc bệnh nhân thể trọng thấp (<50 kg) thể tăng nguy phát triển các Tác dụng không mong muốn của thuốc Độ 3 hoặc cao hơn. Nên theo dõi chặt chẽ ở những bệnh nhân này (xem phần Tác dụng không mong muốn của thuốc)

Natri

Thuốc này chứa <1 mmol natri (23 mg) trong mỗi viên 40 mg hoặc 80 mg, do vậy thể xem như thuốc không chứa natri.

Tác dụng không mong muốn khi dùng thuốc Tagrix 80

Tóm tắt dữ liệu an toàn thuốc 

c nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) đột biến EGFR dương tính 

Dữ liệu đề cập dưới đây phản ánh việc tiếp xúc với thuốc Tagrix trên 1142 bệnh nhân ung thư phổi loại không tế bào nhỏ (NSCLC) đột biến EGFR dương tính. Các bệnh nhân này đã được điều trị với Tagrix liều 80 mg mỗi ngày trong hai nghiên cứu ngẫu nhiên pha 3 (FLAURA, bước 1 AURA 3, bước 2), hai nghiên cứu đơn nhánh (AURAex AURA2, bước 2 hoặc lớn hơn) một nghiên cứu pha 1 (AURA1, bước 1 hoặc lớn hơn) (xem phần Đặc tính được lực học). Đa số các phản ứng ngoại ý cấp độ 1 hoặc 2. Các phản ứng ngoại ý thường gặp nhất được ghi nhận tiêu chảy (49%) nổi mẩn (47%). Các phản ứng ngoại ý cấp độ 3 4 trong các nghiên cứu này chiếm tỷ lệ tương ứng 9,7% 0,9%. Việc giảm liều do ADR xảy ra chiếm tỷ lệ 2,1% trên tổng số bệnh nhân đang dùng Tagrix 80 mg, 1 lần/ngày. Ngưng thuốc do gặp phản ứng ngoại ý chiếm tỷ lệ 4,3%

Bệnh nhân tiền sử bệnh phổi kẽ (TLD), đã dùng thuốc gây ILD, viêm phổi do xạ trị phải dùng steroid, hoặc bất kỳ bằng chứng ILD tiến triển trên lâm sàng đã được loại trừ khỏi các nghiên cứu lâm sàng này. Bệnh nhân bất thường về nhịp dẫn truyền quan trọng trên lâm sàng được xác định bằng ECG lúc nghỉ (dụ khoảng QTc lớn hơn 470 ms) đã được loại trừ. Bệnh nhân được đánh giá LVEF khi tầm soát mỗi 12 tuần theo dõi sau đó.

Bảng phân loại phản ứng ngoại ý.

Các phản ứng ngoại ý được ấn định theo nhóm tần suất xảy ra tại Bảng 2 dựa trên tỷ lệ báo cáo phản ứng ngoại ý trong dữ liệu gộp từ 1142 bệnh nhân ung thư phổi loại không tế bào nhỏ đột biến EGFR dương tính được điều trị với Tagrix liều 80 mg mỗi ngày trong các nghiên cứu FLAURA, AURA3, AURAex, AURA 2 AURA1

Các phản ứng ngoại ý do thuốc được liệt theo nhóm hệ quan (SoC) trong MedDRA. Trên mỗi nhóm hệ quan, các phản ứng ngoại ý được xếp hạng dựa theo tần suất xảy ra với các phản ứng xảy ra thường xuyên nhất được liệt đầu tiên. Trong mỗi nhóm tần xuất, phản ứng ngoại ý được liệt theo mức nghiêm trọng giảm dần. Ngoài ra, phân loại tần xuất tương ứng cho mỗi ADR được dựa trên quy ước CIOMS III định nghĩa như sau: rất thường gặp (≥1/10); thường gặp (≥1/100 <1/10); không thường gặp (≥1/1.000 <1/100); hiếm gặp (≥1/10.000 <1/1.000); rất hiếm (<1/10.000); chưa (không thể dự đoán từ dữ liệu sẵn )

Bảng 2. Phản ứng ngoại ý được ghi nhận từ các nghiên cứua FLAURA AURA

Hệ cơ quan liệt kê theo MedDRA Thuật ngữ theo MedDRA Tần xuất miêu tả theo CIOMSI tần xuất tổng quát (toàn bộ các cấp độ CTCAE)b Tần xuất gặp các cấp độ 3 hoc cao hơn  theo CTCA
Rối loạn hệ hô hấp, lồng ngực và trung thất Bệnh phổi mô kẽc Thường gặp (3,9%)d 1,5
Rối loạn hệ tiêu hóa
 
Tiêu chảy  Rất thường gặp (49%) 1,2
Viêm miệng  Rất thường gặp (20%) 0,2
Rối loạn mắt Viêm giác mạcc Không thường gặp (0.7%) 0,1
Rối loạn da và mô dưới da

 

Nổi mẩnf Rất thường gặp (47%) 0,9
Khô dag Rất thường gặp (33%) 0,1
Nhiễm trùng quanh móngh Rất thường gặp (31%) 0,3
Ngứai Rất thường gặp (17%) 0,1
Hồng ban đa dạngj Không thường gặp (0.35%) 0
Hội chứng Stevens-Johnsonk Hiếm gặp (0,02%)  
Thông số xét nghiệm cận lâm sàng Khoảng QTc kéo dàil Không thường gặp (0,9%)  
(phát hiện dựa trên kết quả xét nghiệm tại các Giảm số lượng tiểu cầum Rất thường gặp (54%) 1.6
Giảm bạch cầum Rất thường gặp (68%) 1.5
Giảm tế bào lymphom Rất thường gặp (67%) 7.2
Giảm bạch cầu trung tínhm Rất thường gặp (35%) 4.1

aDữ liệu gộp từ nghiên cứu FLAURA và AURA (AURA3, AURAex, AURA2 và AURA 1); chỉ tóm tắt các biến cố trên bệnh nhân dùng tối thiểu 1 liều TAGRIssố trong điều trị ngẫu nhiên.

bTiêu chuẩn định danh các biến cố ngoại ý của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute Common Terminology Criteria for Adverse Events) phiên bản 4.0.

cBao gồm các biến cố ghi nhận thuộc nhóm thuật ngữ: bệnh phổi kẽ, viêm phổi không do nhiễm trùng.

d5 biến cố cấp độ 5 (tử vong) theo CTCAE đã được ghi nhận.

eBao gồm các biến cố ghi nhận thuộc nhóm thuật ngữ: viêm giác mạc, viêm giác mạc đốm, trầy xướt giác mạc, khuyết biếu trước giác mạc

fBao gồm các biến cghi nhận thuộc nhóm thuật ngữ dành cho biến cố ngoại ý nổi mẩn như: nổi mẩn, nổi mẩn tổng quát, nổi mẩn dạng hồng ban, nổi mẩn dạng ban, nổi mẩn dạng bannốt sần, nổi mẩn nốt sần, mụn mủ, nổi mẩn ngứa, nổi mẩn mụn nước, nổi mẩn nang lông, ban đỏ, viêm nang lông, mụn, viêm da, viêm da dạng mụn, nổi mẩn do thuốc, mòn da.

gBao gồm các biến cố ghi nhận thuộc nhóm thuật ngữ: khô da, nứt da, chàm da, eczema, bệnh khô da.

hBao gồm các biến cố ghi nhận thuộc nhóm thuật ngữ: rối loạn lớp đáy móng tay/chân (nail bed), viêm đáy móng, nhiễm trùng đáy mỏng, mất màu móng, sắc tố mỏng, rối loạn móng, loạn dưỡng móng, nhiễm trùng móng, móng sọc, đau móng, gãy móng, hở móng, vảy nến móng, viêm nấm móng, nhiễm trùng quanh móng.

iBao gồm các biến cố ghi nhận thuộc nhóm thuật ngữ: ngứa, ngứa tổng quát, ngứa mắt. Bốn trong số 1142 bệnh nhân của nghiên cứu AURA và FLAURA đã ghi nhận biến cố hồng ban đa dạng. Các báo cáo sau khi thuốc lưu hành về biến cố hồng ban đa dạng cũng đã nhận được, bao gồm 7 báo cáo từ một nghiên cứu giám sát sau khi thuốc lưu hành (N=3578).

jMột biến cố đã được ghi nhận trong nghiên cứu sau khi thuốc lưu hành, tần suất thu nhận được từ các nghiên cứu FLAURA AURA nghiên cứu sau khi thuốc lưu hành (N = 4720)

lĐại diện tần xuất bệnh nhân QTCF kéo dài >500 mili giây

mĐại diện tần xuất mắc phải phát hiện trên cận lâm sàng, không phải biến cố ngoại ý được báo cáo

Các phát hiện về tính an toàn trong các nghiên cứu một nhánh pha 2 AURAex AURA2 nhìn chung đồng nhất với những quan sát trên nhánh dùng Tagrix của nghiên cứu AURA3. Không ghi nhận độc tính khác hoặc bất ngờ các biến cố ngoại ý tương tự về loại, mức độ nghiêm trọng tần số

Mô tả một số phản ứng ngoại ý chọn lọc 

Bệnh phổi kẽ (ILD)

Trong các nghiên cứu FLAURA và AURA, tần suất xảy ra ILD 10,4% bệnh nhân Nhật Bản, 1,8bệnh nhân Châu Á không phải người Nhật Bản và 2,8% nhóm không phải bệnh nhân Châu Á. Thời gian trung vị khởi phát ILD hoặc phản ứng ngoại ý giống ILD 85 ngày (xem phần Cảnh báo thận trọng khi dùng thuốc)

Khoảng QTc kéo dài

Trên 1142 bệnh nhân trong các nghiên cứu FLAURA và AURA điều trị bằng Tagrix 80 mg, 0,9% số bệnh nhân (n=10) được phát hiện khoảng QTc > 500 mili giây, 3,6% số bệnh nhân (n=41) khoảng QTc tăng > 60 mili giây so với trị số ban đầu. Một phân tích được động học/dược lực học với Tagrix đã dự báo nguy gia tăng khoảng QTc kéo dài phụ thuộc vào liều. Không ghi nhận biển cổ loạn nhịp liên quan đến QTc trong các nghiên cứu FLAURA hoặc AURA (xem phần Cảnh báo thận trọng khi dùng thuốcĐặc tính được lực học

Ảnh hưởng trên dạ dàyruột

Trong nghiên cứu FLAURA và AURA, tiêu chảy được báo cáo ở 49% bệnh nhân trong đó 39% cấp độ 1, 8,0% cấp độ 2 1,2% cấp độ 3; không báo cáo cấp độ 4 hoặc 5. 0,2% bệnh nhân được yêu cầu giảm liều 1,4% bệnh nhân được yêu cầu ngưng thuốc tạm thời. Một biến cố (0,1%dẫn đến ngưng điều trị. Trong nghiên cứu FLAURA AURA3, thời gian trung vị khởi phát tương ứng là 19 ngày 22 ngày và thời gian trung vị của biến cố cấp độ 2 tương ứng 19 ngày 6 ngày

Biến cố huyết học

Việc giảm sớm số lượng trung vị bạch cầu, bạch cầu lympho, bạch cầu trung tính tiểu cầu trên xét nghiệm đã được quan sát thấy những bệnh nhân điều trị bằng Tagrix, số lượng này ổn định theo thời gian và sau đó vẫn duy trì trên giới hạn dưới của mức bình thường. Các biến cố ngoại ý liền quan đến giảm bạch cầu, giảm bạch cầu lympho, giảm bạch cầu trung tính giảm tiểu cầu đã được báo cáo, hầu hết trong số đó mức độ nhẹ hoặc trung bình không dẫn đến ngưng thuốc

Người cao tuổi

Trong nghiên cứu FLAURA và AURA3 (N=1142), 43% số bệnh nhân độ tuổi > 65 tuổi, 13% bệnh nhân > 75 tuổi. Tỷ lệ phản ứng ngoại ý dẫn đến chỉnh liều thuốc nghiên cứu (ngưng thuốc hoặc giảm liều) được ghi nhận nhiều hơn bệnh nhân 265 tuổi so với nhóm bệnh nhân trẻ hơn (565) (13,4% so với 7,6%). Loại phản ứng ngoại ý tương tự nhau bất kể tuổi tác. Bệnh nhân cao tuổi gặp nhiều phản ứng ngoại ý cấp độ 3 hoặc cao hơn so với nhóm bệnh nhân trẻ tuổi hơn (13,4% so với 9,3%). Không ghi nhận sự khác biệt về hiệu quả của thuốc giữa nhóm bệnh nhân cao tuổi này và nhóm trẻ tuổi hơn. Một kết quả tương tự về tính an toàn hiệu quả cũng được quan sát thấy khi phân tích các nghiên cứu AURA pha 2

Bệnh nhân thể trong thấp

Bệnh nhân điều trị với Tagrix 80 mg thể trọng thấp (<50 kg) ghi nhận xảy ra với tần suất cao hơn về các biến cố ngoại ý cấp độ > 3 (52% so với 35%) khoảng QTc kéo dài (14% so với 4%) so với bệnh nhân thể trọng cao (250 kg)

Báo cáo phản ứng ngoại ý nghi ngờ do thuốc

Báo cáo các phản ứng ngoại ý nghi ngờ do thuốc sau khi thuốc được cấp phép lưu hành là quan trọng. Điều này cho phép tiếp tục theo dõi sự cân bằng giữa nguy /lợi ích của thuốc. Cán bộ y tế được yêu cầu báo cáo bất kỳ Tác dụng không mong muốn của thuốc nào qua hệ thống báo cáo quốc gia.

Tương tác thuốc và các dạng tương tác khác

Tương tác về dược động học

Các thuốc cảm ứng CYP3A4 mạnh thể làm giảm nồng độ thời gian tiếp xúc của osimertinib. Osimertinib thể làm tăng nồng độ thời gian tiếp xúc của chất nền protein kháng ung thư (BCRP) Pglycoprotein (Pgp)

Hoạt chất thể làm tăng nồng đosimertinib trong huyết tương

Các nghiên cứu in vitro đã cho thấy osimertinib được chuyển hóa pha chủ yếu qua CYP3A4 CYP3A5. Trong một nghiên cứu dược động học trên lâm sàng, khi dùng chung với 200 mg itraconazole (chất ức chế CYP3A4 mạnh) x 2 lần/ngày đã không ảnh hưởng đáng kể về lâm sàng trên nồng độ thời gian tiếp xúc với osimertinib (diện tích dưới đường cong (AUC) tăng 24% Cmax giảm 20%). vậy, chất ức chế CYP3A4 lẽ không ảnh hưởng đến nồng độ thời gian tiếp xúc của osimertinib. Chưa xác định được các men xúc tác thêm

Hoạt chất thể làm giảm nồng độ osimertinib trong huyết tương

Trong một nghiên cứu dược động học lâm sàng trên bệnh nhân, diện tích nồng độ osimertinib dưới đường cong giai đoạn ổn định (AUC steady state) giảm 78% khi dùng chung với rifampicin (600 mg/ngày trong 21 ngày). Tương tự, nồng độ thời gian tiếp xúc với chất chuyển hóa AZ5104 cũng giảm 82% (đối với trị số AUC) và 78% (đối với trị số Cmax). Khuyến cáo nên tránh dùng TAGRISSO đồng thời với các chất cảm ứng CYP3A mạnh (e.g. Phenytoin, rifampicin carbamazepin). Các chất cảm ứng CYP3A4 trung bình (e.g. bosentan, efavirenz, etravirine, modafinil) thể cũng làm giảm nồng độ thời gian tiếp xúc osimertinib nên sử dụng thận trọng hoặc tránh dùng nếu thể. Chưa dữ liệu lâm sàng để khuyến cáo chnh liều Tagrix. Chống chỉ định dùng chung với thuốc St. Johns Wort (xem phần Chống chỉ định)

Ảnh hưởng của các thuốc làm giảm dịch dạ dày trên osimertinib

Trong một nghiên cứu dược động học lâm sàng, việc dùng đồng thời với omeprazole đã không thay đổi nồng độ thời gian tiếp xúc của osimertinib trên lâm sàng. Các chất điều biến pH dịch vị thể dùng chung với Tagrix không bất kỳ hạn chế nào

Hoạt chất nồng độ trong huyết tương có thể thay đổi do Tagrix.

Theo các nghiên cứu in vitro, osimertinib là chất ức chế cạnh tranh của chất vận chuyển BCRP

Trong một nghiên cứu PK trên lâm sàng, khi dùng đồng thời Tagrix với rosuvastatin (chất nền nhạy cảm BCRP) sẽ làm tăng AUC Cmax của rosuvastatin tương ứng 35% và 72%. bệnh nhân đang dùng đồng thời vi các thuốc khuynh hướng phụ thuộc BCRP có chỉ số điều trị thấp, nên theo dõi chặt chẽ về dấu hiệu thay đổi tính dung nạp của thuốc dùng chung thể kết quả của sự tăng nồng độ thời gian tiếp xúc trong khi dùng chung với Tagrix (xem phần Đặc tính dược động)

Trong một nghiên cứu PK trên lâm sàng, việc dùng đồng thời Tagrix với simvastatin (chất nền nhạy cảm CYP3A4) sẽ làm giảm AUC Cmax của simvastatin tương ứng 9% 23%. Các thay đổi này nhỏ lẽ không đáng kể về mặt lâm sàng. Không chắc xảy ra tương tác dược động học trên lâm sàng với chất nền CYP3A4. Không loại bỏ nguy giảm nồng độ thời gian tiếp xúc của hormon ngừa thai khi dùng đồng thời

Trong một nghiên cứu lâm sàng về tương tác thuốc của thụ thể Pregnane X (PXR), sử dụng đồng thời Tagrix với fexofenadine (chất nền Pgp) đã làm tăng AUC Cmax của fexofenadine tương ứng 56% (90% CI 35, 79) 76% (90% CI 49, 108) sau khi dùng một liều duy nhất, và 27% (90% CI 11, 46) và 25% (90% CI 6, 48) khi trạng thái ổn định. Bệnh nhân dùng đồng thời với các thuốc phụ thuộc Pgp ngưỡng trị liệu hẹp (như digoxin, dabigatran, aliskiren) nên được theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu thay đổi khả năng dung nạp do tăng mức tiếp xúc của thuốc dùng đồng thời với Tagrix (xem phần Đặc tính được động)

Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú

Biện pháp ngừa thai đối với nam giới phụ nữ Phụ nữ khả năng mang thai được khuyến cáo nên tránh thai khi dùng Tagrix. Bệnh nhân nên dùng các biện pháp ngừa thai hiệu quả tối thiểu 2 tháng phụ nữ 4 tháng nam giới sau khi hoàn tất liệu trình điều trị bằng thuốc. Không loại trừ nguy thuốc làm giảm nồng độ thời gian tiếp xúc của hormon ngừa thai

Phụ nữ có thai

Chưa có hoặc ít dữ liệu về việc dùng osimertinib cho phụ nữ thai. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy thuốc gây độc tính trên hệ sinh sản (gây chết phôi thai, giảm phát triển phôi thai tử vong chu sinh). Theo chế tác động dữ liệu tiền lâm sàng, osimertinib thể làm tổn hại phôi thai khi dùng thuốc trên phụ nữ thai. Tagrix  không nên dùng cho phụ nữ thai trừ phi tình trạng lâm sàng của bệnh nhân này bắt buộc phải điều trị với osimertinib

Phụ nữ đang cho con bú

Chưa biết liệu osimertinib hoặc chất chuyển hóa bài tiết qua sữa mẹ hay không. Không thông tin đầy đủ về việc bài tiết osimertinib hoặc chất chuyển hóa vào sữa trên động vật. Tuy nhiên, osimertinib các chất chuyển hóa đã được phát hiện trên lửa chó con đang đã ghi nhận phản ứng ngoại ý trên sự phát triển sống còn của lứa chó con này. Chưa loại trừ nguy trên trẻ em đang nếu người mẹ dùng thuốc. Nên ngưng cho con khi người mẹ dùng thuốc Tagrix

Khả năng sinh sản

Chưa dữ liệu về ảnh hưởng của Tagrix trên khả năng sinh sản người. Kết quả từ c nghiên cứu trên súc vật cho thấy osimertinib ảnh hưởng trên các quan sinh sản của nam giới/phụ nữ thể gây tổn hại khả năng sinh sản.

Ảnh hưởng của thuốc tới khả năng lái xe và vận hành máy móc

Tagrix không hoặc ít ảnh hưởng đến việc lái xe hoặc vận hành máy móc

Quá liều và cách xử trí

Trong các nghiên cứu lâm sàng đã có một số ít bệnh nhân dùng Tagrix liều hàng ngày lên đến 240 mg không ghi nhận độc tính giới hạn liều (dose limiting toxicities). Trên các nghiên cứu này, bệnh nhân dùng Tagrix với liều hàng ngày 160 mg 240 mg đã ghi nhận sự tăng tần suất mức độ trầm trọng các phản ứng ngoại ý điển hình gây ra do EGFR TKI (chủ yếu tiêu chảy nổi mẩn da) so với mức liều 80 mg. Rất ít kinh nghiệm về quá liều ngẫu nhiên trên người. Tất cả các trường hợp đều xảy ra riêng lẻ do bệnh nhân sai sót khi dùng thuốc không gặp bất kỳ hậu quả lâm sàng nào

Không có xử trí đặc biệt trong trường hợp quá liều Tagrix. Khi nghi ngờ quá liều, nên ngưng dùng Tagrix bắt đầu xtrí triệu chứng.

Hạn dùng và bảo quản Tagrix 80

ĐIỀU KIỆN BẢO QUẢN: Bảo quản nhiệt độ không quá 30°c.

HẠN DÙNG: 3 năm kể từ ngày sản xuất.

Nguồn gốc, xuất xứ Tagrix 80

Xuất xứ: Ấn Độ

Nhà sản xuất: Beacon Pharmaceuticals

Dược lực học

Nhóm dược trị liệu: thuốc chống ung thư, chất ức chế protein kinase; ATC: L011E35

Cơ chế tác động

Osimertinib là chất ức chế Tyrosine Kinase (TKI). Đây chất ức chế không thuận nghịch thụ thể yếu tố phát triển biểu (Epidermal Growth Factor Receptors EGFRs) đột biến nhạy cảm (EGFRm) đột biến T790M đề kháng với TKI

Tác động về dược lực

Các nghiên cứu in vitro đã cho thấy osimertinib tác động ức chế hiệu quả cao thụ thể EGFR bằng các bước điều trị các tế bào ung thư phổi không phải tế bào nhỏ có đột biến T790M đột biến EGFRm nhạy cảm trên lâm sàng (xét nghiệm phosphoEGFR cho thấy IC50S rệt t6 M đến 54 nM). Điều này dẫn đến ức chế sự phát triển của tế bào trong khi cho thấy ít tác động đáng kể trên. EGFR của các tế bào không đột biến (wildtype cell lines) (xét nghiệm phosphoEGFR cho thấy IC50S rệt từ 480 nM đến 1,8 μM). Khi dùng osimertinib đường uống in vivo làm cho khối u co lại cả mẫu khỏi u ghép ngoại lai biến đổi gen trên phổi chuột tế bào ung thư phổi không tế o nhỏ có đột biển EGFRm T790M

Điện sinh lý học trên tim

Khả năng kéo dài khoảng QTc khi dùng TAGRISSO đã được đánh giá trên 200 bệnh nhân đang dùng osimertinib 80 mg/ngày trong nghiên cứu AURA2. Các gtrị ECG đã được thu thập sau khi dùng 1 liều osimertinib khi thuốc đã đạt nồng độ hằng định để đánh giá tác động của osimertinib trên khoảng QTc. Phân tích dược động học/dược lực học dự đoán khả năng kéo dài khoảng QTc liên quan đến thuốc liều 80 mg 14 mili giây với trị số giới hạn trên 16 mili giây (độ tin cậy 90% CI)

Hiệu quả và an toàn trên lâm sàng 

Bệnh nhân ung thư phổi loại không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn tiến triển tại chỗ hay di căn, đột biến EGFR dương tính chưa được điều trị trước đây nghiên cứu FLAURA

Hiệu quả và an toàn của Tagrix trong việc điều trị bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) đột biến EGFR dương tính giai đoạn tiến triển tại chỗ không phù hợp với phẫu thuật hoặc xạ trị triệt căn, hoặc bệnh nhân di căn, trước đây chưa nhận được điều trị toàn thân khi bệnh tiến xa, đã được chứng minh trong một nghiên cứu ngẫu nhiên, đôi, nhóm chứng theo điều trị chuẩn (FLAURA). Mẫu khối u của bệnh nhân được yêu cầu phải một trong hai đột biến EGFR phổ biến được biết liên quan đến nhạy thuốc EGFR TKI (Ex19del hoặc L858R), được xác định bằng xét nghiệm tại chỗ hoặc trung tâm

Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên theo tỷ lệ 1:1 để dùng Tagrix (n = 279, 80 mg uống mỗi ngày một lần) hoặc dùng thuốc so sánh EGFR TKI (n = 277; gefitinib 250 mg uống mỗi ngày một lần hoặc erlotinib 150 mg uống mỗi ngày một lần). Việc phân ngẫu nhiên được phân tầng theo kiểu đột biến EGFR (Ex19del hoặc L858R) chủng tộc (Châu Á hoặc không phải người châu Á). Bệnh nhân được dùng thuốc nghiên cứu cho đến khi không dung nạp với điều trị, hoặc nghiên cứu viên xác định rằng bệnh nhân không còn nhận được lợi ích lâm sàng nữa. Đối với bệnh nhân dùng thuốc so sánh EGFR TKI, được cho phép dùng Tagrix nhãn mở sau khi tiến triển bệnh miễn các mẫu khối u được xét nghiệm dương tính với đột biến T790M. Tiêu chí hiệu quả chính thời gian sống không bệnh tiến triển (PFS) được đánh giá bởi nghiên cứu viên

Các đặc tính bản về nhân trắc học bệnh của tổng dân số nghiên cứu : tuổi trung vị 64 tuổi (trong khoảng từ 2693 tuổi), 275 tuổi (14%), nữ (63%), người da trắng (36%), chủng tộc Châu Á (62%), không hút thuốc (64%), điểm tổng trạng theo WHO 0 hoặc 1 (100%), bệnh di căn xương (36%), di căn tạng ngoài lồng ngực (35%), di căn hệ thần kinh trung ương (21%, được xác định qua tổn thương thần kinh trung ương lúc ban đầu, tiền sử bệnh, và/hoặc phẫu thuật trước đó, /hoặc xạ trị trước đó cho tình trạng di căn hệ thần kinh trung ương)

Tagrix đã chứng minh cải thiện ý nghĩa vmặt lâm sàng ý nghĩa thống đáng kể về PFS so với thuốc So sánh EGFR TKI (PFS trung vị tương ứng 18,9 tháng 10,2 tháng, HR = 0,46, 95% CI: 0,37; 0,57, P <0,0001). Kết quả hiệu quả từ nghiên cứu FLAURA theo đánh gcủa nghiên cứu viên được tóm tắt trong Bảng 3, đồ thị đường cong KaplanMeier đối với tiêu chí chính PFS được trình bày trong Hình 1. Phân tích cuối cùng về thời gian sống còn toàn bộ (OS, 58% bệnh nhân đã xảy ra biến cố), cho thấy sự cải thiện đáng kể ý nghĩa thống với HR 0,799 (95,05% CI: 0,641, 0,997) thời gian sống trung vị dài hơn ý nghĩa lâm sàng đối với các bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên điều trị bằng Tagrix so với bệnh nhân dùng thuốc EGFR TK đối chứng ( Bảng 3 hình 2). Tỷ lệ bệnh nhân còn sống khi điều trị bằng Tagrix tại thời điểm 12, 18, 24 36 tháng (tương ứng 89%, 81%, 74% và 54%) cao hơn so với bệnh nhân dùng thuốc EGFR TKI đối chứng (tương ứng là 83%, 71%, 59% 41%). Phân tích các tiêu chí sau khi bệnh tiến triển (post progression endpoints) đã cho thấy lợi ích của PFS được duy trì qua các bước điều trị tiếp theo

Bảng 3. Kết quả điều trị từ nghiên cứu FLAURA theo đánh giá bởi nghiên cứu viên

HR (Hazard Ratio) = tỷ số nguy cơ; Cl (Confidence Interval) = khoảng tin cậy, NC = chưa tính được.

Các kết quả PFS, ORR, DoR PFS2 được đánh giá bởi nghiên cứu viên theo tiêu chuẩn RECIST (tiêu chuẩn đánh giá trên bướu đặc RECIST).

Dựa trên đáp ứng chưa khẳng định.

Thời gian theo dõi trung vị 15,0 tháng đối với bệnh nhân dùng Tagrix và 9,7 tháng đối với bệnh nhân dùng thuốc EGFR TK đối chứng.

Thời gian trung vị theo dõi sống còn là 35,8 tháng đối với bệnh nhân dùng Tagrix và 27,0 tháng đối với bệnh nhân dùng thuốc EGFR TK đối chứng.

Kết quả PFS, ORR, DoR, PFS2, TFST và TSST thu được từ dữ liệu cắt ngày 12/06/2017. Kết quả OS thu được từ dữ liệu cắt ngày 25/06/2019.

Tỷ số HR <1 lợi cho Tagrix, tỷ số chênh Odds ratio >1 lợi cho Tagrix 

↑Điều chỉnh phân tích tạm thời (25% bệnh nhân xảy ra biến cố), yêu cầu giá trị p <0,0495 để đạt được ý nghĩa thống .

1Kết quả 0RR theo kiểm định , độc lập tại trung tâm thống nhất với những kết quả được ghi nhận theo đánh giá của nghiên cứu viên; ORR theo đánh giá của BICR tương ứng 78% (95% CI: 73; 83) trên nhánh Tagrix và 70% (95% CI: 65; 76) trên nhánh thuốc EGFR TKT đối chứng

Lợi ích vPFS của Tagrix so với thuốc so sánh EGFR TKI nhất quán tất cả các phân nhóm được xác định trước, bao gồm chủng tộc, tuổi, giới tính, tiền sử hút thuốc, tình trạng di căn hệ thần kinh trung ương tại thời điểm tham gia nghiên cứu và loại đột biển EGFR (mất đoạn trên Exon 19 hoặc L858R)

Dữ liệu về hiệu quả trên bệnh nhân di căn hệ thần kinh trung ương trong nghiên cứu FLAURA Bệnh nhân có di căn hệ thần kinh trung ương không dùng steroid và có thần kinh ổn định trong ít nhất hai tuần sau khi hoàn thành điều trị tình trạng bản steroid thì đủ điều kiện để được phân ngẫu nhiên trong nghiên cứu FLAURA. Trong số 556 bệnh nhân, 200 bệnh nhân đã sẵn các hình ảnh chụp não lúc ban đầu. BICR đánh giá trên các hình ảnh chụp não đã cho thấy một phân nhóm gồm 128/256 (23%) bệnh nhân di căn hệ thần kinh trung ương. Dữ liệu này được tóm tắt trong Bảng 4. Hiệu quả trên thần kinh trung ương đánh giá theo tiêu chuẩn RECIST v1.1 trong nghiên cứu FLAURA đã chứng minh sự cải thiện ý nghĩa thống về PFS trên hệ thần kinh trung ương (HR = 0,48, 95%CI: 0,26; 0,86, P = 0,014)

Bảng 4. Hiệu quả trên thần kinh trung ương theo đánh giá BICR bệnh nhân di căn hệ thần kinh trung ương xác định bằng hình ảnh chụp não ban đầu trong nghiên cứu FLAUR

HR (Hazard Ratio) = tỷ số nguy ; Cl (Confidence Interval) = khoảng tin cậy, NC = chưa tính được. Tỷ số HR <1 lợi cho Tagrix, tỷ số Odds ratio >1 lợi cho Tagrix.

1 PFS trên hệ thần kinh trung ương được xác định bằng tiêu chuẩn RECIST v1.1 theo CNS BICR (các sang thương trên hệ thần kinh trung ương thể đo lường không thể đo lường lúc ban đầu theo BICR) n=61 đối với Tagrix n=67 đối với thuốc So sánh EGFR TKl; đáp ứng chưa được xác nhận

Một phân nhóm PFS được xác định trước dựa trên tình trạng di căn hệ thần kinh trung ương (được xác định bởi tổn thương tại hệ thần kinh trung ương lúc ban đầu, tiền sử bệnh /hoặc phẫu thuật trước đó, và/hoặc xạ trị trước đó cho di căn hệ thần kinh trung ương) tại thời điểm tham gia nghiên cứu đã được thực hiện trong nghiên cứu FLAURA được trình bày trong Hình 3. Bất kể tình trạng tổn thương hệ thần kinh trung ương tại thời điểm tham gia nghiên cứu, bệnh nhân trong nhóm Tagrix đã chứng minh được hiệu quả hơn so với nhóm dùng EGFR TKI ít bệnh nhân tổn thương mới trên hệ thần kinh trung ương nhóm Tagrix so với nhóm so sánh EGFR TKI (Tagrix, 11/279 [3,9%] so với nhóm so sánh EGFR TKI, 34/277 [12,3%]). Trên phân nhóm bệnh nhân không tổn thương thần kinh trung ương lúc ban đầu, ít tổn thương mới trên hệ thần kinh trung ương nhóm TAGRIsso so với nhóm chứng EGFR TKI (tương ứng 7/226 [3,1%] so với 15/214 [7,0%])

Hình 3. Thời gian sống không bệnh tiến triển toàn bộ đánh giá bởi nghiên cứu viên dựa trên tình trạng di căn hệ thần kinh trung ương tại thời điểm tham gia nghiên cứu, đồ thị đường cong KaplanMeier (toàn bộ dân số phân tích trong nghiên cứu FLAUR

Kết quả do bệnh nhân ghi nhận (PRO) 

Các triệu chứng do bệnh nhân báo cáo (patientreported symptoms) chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (healthrelated quality of life HRQL) đã được thu thập qua thiết bị điện tử bằng cách sử dụng bảng câu hỏi EURTC QLQC30 bảng câu hỏi chuyên biệt về ung thư phổi (EORTC QLQLC13). Bảng câu hỏi LC13 ban đầu được dùng một lần mỗi tuần trong 6 tuần đầu tiên, sau đó cứ 3 tuần một lần trước sau khi bệnh tiến triển. Bảng câu hỏi C30 được đánh giá 6 tuần một lần trước sau khi bệnh tiến triển. Tại thời điểm ban đầu, không sự khác biệt triệu chứng do bệnh nhân báo cáo, chức năng hoặc HRQL đã được ghi nhận giữa nhánh Tagrix nhánh dùng thuốc so sánh EGFR TKI (gefitinib hoặc erlotinib). Sự tuân thủ trong 9 tháng đầu cao (>70%) tương tự cả hai nhánh

Phân tích các triệu chứng ung thư phổi chính

Dữ liệu thu thập từ thời điểm ban đầu đến tháng 9 cho thấy sự cải thiện tương tự trên nhóm Tagrix nhóm EGFR TKT đối với năm triệu chứng PRO chính được xác định trước (ho, khó thở, đau ngực, mệt mỏi chán ăn) với sự cải thiện cắt cơn ho trên lâm sàng. Cho đến tháng 9 không sự khác biệt ý nghĩa lâm sàng về triệu chứng do bệnh nhân báo cáo giữa các nhóm Tagrix EGFR TKI (được đánh giá bằng mức chênh lệch > 10 điểm)

HRQL phân tích cải thiện chức năng thể chất (physical functioning improvement analysis)

Cả hai nhóm đều báo cáo những cải thiện tương tự hầu hết các chức năng chính tình trạng sức khỏe toàn cầu / HRQL, cho thấy tình trạng sức khỏe tổng thể của bệnh nhân được cải thiện. Tính đến tháng 9, không sự khác biệt ý nghĩa lâm sàng giữa nhóm Tagrix  nhóm so sánh EGFR TKI vchức năng hoạt động hoặc HRQL

Bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nh(NSCLC) đột biến T790M đã được điều trị trước đó nghiên cứu AURA

Hiệu quả và tính an toàn của Tagrix trong việc điều trị bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn tiến triển tại chỗ hay di căn, đột biến T790M khi bệnh tiến triển hoặc sau khi điều trị bằng EGFR TKL đã được chứng minh trong nghiên cứu pha 3 ngẫu nhiên, nhãn mở, đối chứng (AURA3). Tất cả bệnh nhân phải đột biến EGFR T790M dương tính được xác định qua xét nghiệm đột biến EGFR cobas thực hiện tại phòng thí nghiệm chính trước khi đưa vào điều trị. Tình trạng đột biển I790M cũng được đánh giá qua việc tháo xoắn các DNA khối u trong tuần hoàn (ctDNA) lấy từ mẫu huyết tương trong khi sàng lọc. Mục tiêu chính đánh giá hiệu quả thời gian sống không bệnh tiến triển (PFS) theo đánh giá của nghiên cứu viên. Các mục tiêu đo lường hiệu quả bổ sung bao gồm tỷ lệ đáp ứng khách quan (objective response rate ORR), thời gian đáp ứng (DoR) thời gian sống còn toàn bộ (OS) theo đánh giá của nghiên cứu viên

Bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên dùng thuốc theo tỷ lệ 2:1, tương ứng dùng Tagrix (n=279) hoặc hóa trị bộ đôi platinum (n=140). Việc dùng thuốc được phân ngẫu nhiên theo chủng tộc (châu Á không phải châu Á). Bệnh nhân nhánh Tagrix dùng liều 80 mg uống một lần/ngày cho đến khi không dung nạp với điều trị, hoặc nghiên cứu viên xác định rằng các bệnh nhân không còn lợi ích lâm sàng. Hóa trị gồm pemetrexed 500 mg/m2 với carboplatin AUC5 hoặc pemetrexed 500 mg/m2 với cisplatin 75 mg/m2) vào ngày 1 của mỗi chu kỳ 21 ngày cho đến 6 chu kỳ. Bệnh nhân không tiến triển bệnh sau bốn chu kỳ hóa trị liệu platinum như trên thể được điều trị duy trì bằng pemetrexed (pemetrexed 500 mg/m2 vào ngày 1 của mỗi chu kỳ 21 ngày). Những bệnh nhân trong nhánh hóa trị bệnh tiến triển trên chẩn đoán hình ảnh (theo nghiên cứu viên được xác định qua chẩn đoán hình ảnh độc lập) sẽ hội được bắt đầu điều trị bằng Tagrix

Các đặc tính bản về nhân trắc học bệnh của dân số nghiên cứu tuổi trung vị 62 tuổi, bệnh nhân 275 tuổi (15%), phụ nữ (64%), người da trắng (32%), chủng tộc Châu Á (65%), không hút thuốc (68%), 100% bệnh nhân trị số thể trạng theo WHO 0 hoặc 1. 54% bệnh nhân đã bị di căn tạng ngoài lồng ngực (extrathoracic visceral metastases), trong đó 34% bị di căn hệ thần kinh trung ương (được xác định qua sang thương thần kinh trung ương mức bản, tiên sử y khoa, /hoặc phẫu thuật trước đó, /hoặc xạ trị trước khi di căn hệ thần kinh trung ương) 23% di căn gan. 41% bệnh nhân bị di căn xương

Nghiên cứu AURA3 cho thấy sự cải thiện ý nghĩa thống về PFS trên nhánh bệnh nhân điều trị bằng Tagrix so với nhánh dùng hóa trị. Bảng 5 tóm tắt kết quả về hiệu quả của nghiên cứu AURA3 theo đánh giá từ nghiên cứu viên hình 4 trình bày đồ thị đường cong KaplanMeier đối với PFS. Dữ liệu sống còn toàn bộ chưa đạt đủ yêu cầu tại thời điểm phân tích OS ban đầu này

Bảng 5. Kết quả điều trị từ nghiên cứu AURA3 theo đánh giá của nghiên cứu viên 

HR (Hazard Ratio) = tỷ số rủi ro; Cl (confidence interval) = khoảng tin cậy; NC = chưa tính được.

Tất cả kết quả về hiệu quả điều trị được đánh giá theo tiêu chuẩn RECIST (tiêu chuẩn đánh giá đáp ứng trên bướu đặc RECIST).

1Phân tích OS đầu tiên đã được thực hiện khoảng 4 tháng sau khi phân tích ban đầu vPFS. Phân tích Os không được điều chỉnh theo khả năng gây nhiễu của nhóm bệnh nhân nhánh hóa trị chuyển sang dùng osimertinib (94 [67%] bệnh nhân nhánh dùng hóa trị được điều trị bằng osimertinib sau đó).

2Kết quả ORR (Tỷ lệ đáp ứng khách quan) và DoR (Thời gian đáp ứng) được đánh giá theo nghiên cứu viên thì phù hợp với các ghi nhận qua Hội đồng độc lập thẩm định (BICR Blinded Independent Central Review); ORR theo đánh giá của BICR tương ứng 64,9% [95% CI: 59,0; 70,5] trên nhánh dùng osimertinib 34,3 % [95% CI: 26,5; 42,8] trên nhánh hóa trị; Don theo đánh giá của BICR 11,2 tháng (95% CI: 8,3; NC) trên nhánh dùng osimertinib 3,1 tháng (95% CI: 2,9; 4,3) trên nhánh hóa trị

Phân tích độ nhạy đối với PFS được Hội đồng độc lập thẩm định mù (BICR) thực hiện đã cho thấy PFS đạt được trung vị 11,0 tháng nhánh Tagrix so với 4,2 tháng nhảnh hóa trị. Phân tích này cho thấy hiệu quả điều trị phù hợp với đánh giá của nghiên cứu viên (HR 0,28; 95% CI: 0,20; 0,38).

Cải thiện ý nghĩa về mặt lâm sàng đối với PFS với tỷ số rủi ro HRs < 0,50 lợi cho nhảnh bệnh nhân dùng Tagrix so với nhánh hóa trị, ghi nhận này nhất quán trong tất cả c phân nhóm xác định trước đã phân tích, bao gồm cả chủng tộc, tuổi tác, giới tính, tiền sử hút thuốc và đột biến EGFR (đột biến mất đoạn Exon 19 đột biến điếm L858R).

Dữ liệu về hiệu quả trên di căn hệ thần kinh trung ương trong nghiên cứu AURA3

Bệnh nhân đủ điều kiện để được chọn ngẫu nhiên vào nghiên cứu là bệnh nhân có di căn não ổn định, không triệu chứng, không được chỉ định dùng corticosteroids trong tối thiểu 4 tuần trước khi bắt đầu điều trị. Bảng 6 tóm tắt đánh giá của BICR về hiệu quả trên hệ thần kinh trung ương căn cứ theo tiêu chuẩn RECIST v1.1 trên 116 trong tổng số 419 bệnh nhân (chiếm tỷ lệ 28%) đã xác định di căn hệ thần kinh trung ương bằng phương tiện chẩn đoán hình ảnh não tại thời điểm tham gia nghiên cứu

Bảng 6. Hiệu quả trên hệ thần kinh trung ương theo CR trên bệnh nhân di căn hệ thần kinh trung ương xác định bằng phương tiện chẩn đoán hình ảnh não trong nghiên cứu AURA3 

1Tỷ lệ đáp ứng khách quan Thời gian đáp ứng trên CNS được xác định bằng tiêu chuẩn RECIST v1.1. theo đánh giá của CNS BICR trên dân số đáp ứng (các sang thương trên hệ thần kinh trung ương tại thời điểm tham gia nghiên cứu được đo lường theo BICR) n=30 nhánh Tagrix n=16 nhánh hóa trị

2Chỉ dựa trên số bệnh nhân đáp ứng; DoR được định nghĩa thời gian đáp ứng đầu tiên được ghi nhận (đáp ứng hoàn toàn hoặc một phần) cho đến khi bệnh tiên triền hoặc tử vong; DCR được định nghĩa tỷ lệ bệnh nhân đáp ứng (đáp ứng hoàn toàn hoặc một phần), hoặc bệnh ổn định > 6 tuần

3Thời gian sống không bệnh tiến triển trên CNS được xác định bằng tiêu chun RECIST v1.1 theo đánh giá của CNS BICR (RECIST v1.1 by CNS BICR) trong phân tích đầy đủ trên dân số (sang thương trên hệ thần kinh trung ương tại thời điểm tham gia nghiên cứu đo lường được hoặc không thể đo lường được theo BICR) n=75 nhánh Tagrix n=41 nhánh hóa trị Tỷ số rủi ro (HR) <1 lợi cho Tagrix.

AURA3 định trước việc đánh giá PFS cho phân nhóm di căn trên hệ thần kinh trung ương được xác định tại đầu vào của nghiên cứu, thể hiện Hình 5

Hình 5. Thời gian sống không bệnh tiến triển toàn bộ đánh giá bởi nghiên cứu viên dựa trên tình trạng di căn hệ thần kinh trung ương được xác định tại đầu vào nghiên cứu, đồ thị đường cong KaplanMeier (toàn bộ dân số phân tích) trong nghiên cứu AURA3 

AURA3 cho thấy sự cải thiện đáng kể ý nghĩa thống về PFS trên bệnh nhân dùng Tagrix so với bệnh nhân dùng hóa trị bất kể tình trạng di căn hệ thần kinh trung ương tại thời điểm tham gia nghiên cứu

Kết quả do bệnh nhân ghi nhận Các triệu chứng do bệnh nhân báo cáo (patient-reported symptoms) chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (health-related quality of life HRQL) đã được thu thập qua thiết bị điện tử bằng cách sử dụng bảng câu hỏi EURTC QLQC30 bảng câu hỏi chuyên biệt về ung thư phổi (EORTC QLQLC13). Bảng câu hỏi LC13 ban đầu được dùng một lần một tuần trong 6 tuần đầu tiên, sau đó mỗi 3 tuần trước sau khi bệnh tiến triển. Bảng câu hỏi C30 được đánh giá mỗi 6 tuần trước và sau khi bệnh tiến triển

Phân tích các triệu chứng ung thư phổi chính 

Tagrix làm cải thiện các triệu chứng ung thư phổi do bệnh nhân báo cáo so với hóa trị qua sự khác biệt ý nghĩa thống về sự thay đổi đáng kể so với ban đầu trên toàn bộ thời gian từ khi phân nhóm ngẫu nhiên cho đến 6 tháng đối với 5 triệu chứng chính được xác định trước (chán ăn, ho, đau ngực, khó thở mệt mỏi) được thể hiện trong Bảng 7.

Bảng 7. Đánh giá lặp lại hình hỗn hợp (Mixed Model Repeated Measures)Các triệu chứng ung thư phổi chính trung vị thay đổi so với ban đầu nhánh dùng Tagrix so với nhánh hóa trị 

Giá trị trung bình hiệu chỉnh và sự khác biệt ước tính được thu thập từ phép phân tích theo Đánh giá lặp lại mô hình hỗn hợp (Mixed Model Repeated Measures MMRM). hình này bao gồm bệnh nhân, điều trị, lần thăm khám, tương tác giữa điều trị theo số lần thăm khám, điểm số triệu chứng bản, tương tác giữa số triệu chứng bản theo số lần thăm khám và sử dụng ma trận phương sai không cấu trúc

Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HRQL) phân tích cải thiện chức năng thể chất (physical functioning improvement analysis

Bệnh nhân dùng Tagrix có cơ hội lớn hơn đáng kể đạt được sự cải thiện ý nghĩa lâm sàng lớn hơn hoặc bằng 10 điểm về tình trạng sức khỏe toàn cầu và chức năng thể chất theo Bảng câu hỏi EURTC C30 so với hóa trị liệu trong thời gian nghiên cứu. Tỷ suất chênh (OR) của tình trạng sức khỏe toàn cầu : 2,11 ( 95% CI 1,24; 3,67; p=0,007); Tỷ suất chênh (OR) của chức năng thể chất : 2,79 (95% CI 1,50; 5,46; p=0,002)

Bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) đột biến T790M trước khi điều trị trong nghiên cứu AURAex AURA2 

Các nghiên cứu lâm sàng 2 nhánh riêng lẻ, nhãn mở gồm nghiên cứu đoàn hệ mở rộng pha 2 (AURAex (n=2010) nghiên cứu pha 2 (AURA2 (n=210)) đã được thực hiện trên bệnh nhân ung thư phổi có đột biến EGFR T790M bệnh tiến triển sau một hoặc nhiều liệu pháp điều trị toàn thân trước đây, kể cả liệu pháp EGFR TK1. Toàn bộ bệnh nhân được yêu cầu phải đột biến EGFR T790M dương tính được xác định qua xét nghiệm đột biến EGFR đo bằng hệ thống cobas trong phòng xét nghiệm trung tâm trước khi đưa vào điều trị. Tình trạng đột biến T790M cũng được đánh giá bằng cách đánh giá hồi cứu ctDNA trích xuất từ mẫu huyết tương thu thập trong khi sàng lọc. Toàn bộ bệnh nhân được cho dùng Tagrix với liều 80 mg, 1 lần/ngày. Mục tiêu chính đánh giá hiệu quả của hai nghiên cứu này tỷ lệ đáp ứng khách quan (Objective response rate ORR) theo tiêu chuẩn RECIST v1.1 bởi BICR. Mục tiêu phụ đo lường hiệu quả bao gồm thời gian đáp ứng (Duration of Response DoR) thời gian sống không bệnh tiến triển (ProgressionFree Survival PFS)

Đặc điểm bản của dân số nghiên cứu tổng thể (AURAex AURA2) như sau: độ tuổi trung vị 63 năm, bệnh nhân 275 tuổi (13%), phụ n(68%), người da trắng (36%), châu Á (60%). Toàn bộ bệnh nhân đều được nhận ít nhất điều trị bước 1 trước khi đưa vào nghiên cứu. Ba mươi mốt phần trăm (31%) (N=129) đã nhận điều trị bước 1 trước khi điều trị (bằng EGFRTKI), 69% (N=282) đã nhận được điều trị bước 2 hoặc nhiều hơn. Bảy mươi hai phần trăm (72%) bệnh nhân người không hút thuốc, 100% bệnh nhân chỉ số thể trạng theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 0 hoặc 1. Năm mươi chín phần trăm (59%) bệnh nhân đã di căn tạng ngoài lồng ngực, trong đó 39% bệnh nhân bị di căn trên hệ thần kinh trung ương (CNS) (được xác định bởi sang thương trên thần kinh trung ương so với trị số bản, tiền sử y khoa, và/hoặc phẫu thuật trước đó và/hoặc xạ trị trước khi di căn CNS) và 29% di căn gan. Bốn mươi bảy phần trăm (47%) bệnh nhân bệnh di căn xương. Thời gian theo dõi trung vị đối vi PFS 12,6 tháng

Trong 411 bệnh nhân đột biến EGFR I790M dương tính trước khi điều trị, trị số ORR tổng quát theo đánh giá của BICR 66% (95% CI: 61; 71). bệnh nhân đáp ứng đã được xác nhận bởi BICR, DOR trung vị 12,5 tháng (95% CI: 11,1; NE). ORR theo BICR trong AURAex AURA2 tương ứng 62% (95% CI: 55; 68) 70% (95% CI: 63; 77). PFS trung vị 11,0 tháng; 95% CI (9,6; 12,4)

Tỷ lệ đáp ứng khách quan theo BICR đã được ghi nhận trên 50% tất cả các phân nhóm phân tích được xác định trước, bao gồm các liệu pháp điều trị, chủng tộc, tuổi tác khu vực

Khi đánh giá đáp ứng trên toàn bộ dân số, 85% (223/262) được ghi nhận đáp ứng tại thời điểm soát đầu tiên (6 tuần); 94% (2471262) ghi nhận dữ liệu đáp ứng tại thời điểm soát thứ hai (12 tuần)

Dữ liệu hiệu quả trên bệnh nhân di căn CNS trong các nghiên cứu pha 2 (AURAex AURA2)

Đánh giá của BICR về hiệu quả CNS theo tiêu chuẩn RECIST v 1.1 đã được thực hiện trong một phân nhóm gồm 50 bệnh nhân (trong tổng số 411 bệnh nhân) được xác định di căn CNS đo được trên hình ảnh scan não. Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) trên CNS 54% (27/50 bệnh nhân; 95% Cl: 39,3; 68,2) được quan sát, trong đó 12% đáp ứng hoàn toàn

Các nghiên cứu lâm sàng đã không được tiến hành đối với bệnh nhân NSCLC đột biến EGFR T790M ngay từ đầu (de novo EGFR T790M)

Trẻ em

Tính an toàn và hiệu quả của TAGRISS0 trẻ em trẻ vị thành niên < 18 tuổi chưa được thiết lập. Hiện chưa dữ liệu

Dược động học

ĐẶC NH DƯỢC ĐỘNG HỌC 

Các tham số dược động học của osimertinib được xác lập trên người khỏe mạnh bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC). Dựa trên phân tích về dược động học trong dân số nghiên cứu, độ thanh thải huyết tương biểu kiến của osimertinib 14,3 L/h, thể tích phân bố biểu kiến là 918 L thời gian bán thải pha cuối khoảng 44 giờ. AUC Cmax tăng tỷ lệ theo liều mức liều từ 20 đến 240 mg. Khi dùng osimertinib ngày 1 lần làm tăng tích lũy khoảng 3 lần với mức tiếp xúc hằng định đạt được sau 15 ngày dùng thuốc. trạng thái hằng định, nồng độ thuốc trong huyết tương tuần hoàn duy trì một cách điển hình mức gấp 1,6 lần trong khoảng 24 giờ dùng thuốc

Hấp thu

Sau khi ng Tagrix đường uống, nồng độ đỉnh của osimertinib trong huyết tương đạt được khoảng thời gian tmax trung vị (minmax) 6 giờ (3 24 giờ), với một vài đỉnh đã được ghi nhận trong 24 giờ đầu tiên trên một số bệnh nhân. Độ sinh khả dụng tuyệt đối của Tagrix chưa được xác định. Dựa trên một nghiên cứu dược động học lâm sàng trên bệnh nhân tại mức liều 80 mg, thức ăn không làm thay đổi sinh khả dụng osimertinib đến một mức độ ý nghĩa lâm sàng. (AUC tăng 6% (90% CI 45, 19) Cmax giảm 7% (90% CI 19, 6)). người tình nguyện khỏe mạnh dùng 1 viên 80 mg pH dạ dày đã được nâng lên do dùng liều omeprazole trong 5 ngày, nồng độ thời gian tiếp xúc của osimertinib đã không bị ảnh hưởng (AUC Cmax tăng tương ứng 7% 2%) với 90% CI vtỷ lệ tiếp xúc nằm trong giới hạn 80125%

Phân bố

Thể tích phân bố trung vị ước tính trên dân số nghiên cứu của osimertinib trạng thái hằng định (Vss/F) 918 L cho thấy thuốc phân phối rộng rãi vào các . Mức gắn kết protein trong huyết tương của osimertinib in vitro 94,7% (5,3% dạng tự do). Osimertinib cũng đã được chứng tỏ gắn kết cộng hóa trị với protein huyết tương chuột người, albumin huyết thanh của người chuột tế bào gan người. 

Biến đổi sinh học

Nghiên cứu in vitro cho thấy osimertinib được chuyển hóa chủ yếu bởi CYP3A4 CYP3A5. Tuy nhiên, với dữ liệu sẵn hiện tại, không thể loại trừ hoàn toàn các đường chuyển hóa thay thế. Dựa trên các nghiên cứu trong ống nghiệm in vitro, 2 chất chuyển hóa hoạt tính dược (AZ7550 AZ5104) sau đó đã được xác định trong huyết tương trong nghiên cứu tiền lâm sàng và ở người sau một liều uống với osimertinib; AZ7550 cho thấy được lực tương tự với Tagrix trong khi A25104 cho thấy hiệu quả mạnh hơn trên EGFR ở cả hai thể đột biến không đột biến (type wide). Cả hai chất chuyển hóa xuất hiện từ từ trong huyết tương sau khi bệnh nhân uống Tagrix , vi tmax bình quân (minmax) đối với các chất chuyển hóa AZ7550 và A25104 tương ứng 24 giờ (472 giờ) 24 giờ (672 giờ). Trong huyết tương người, osimertinib chiếm 0,8%, với 2 chất chuyển hóa phân bố 0,08% và 0,07% tổng số phóng xạ với phần lớn các chất phóng xạ gắn kết tương đương với protein huyết tương. Việc tiếp xúc trung bình hình học của cả hai AZ5104 và AZ7550, dựa trên AUC, xấp xỉ 10% mức tiếp xúc của osimertinib khi trạng thái ổn định

Đường chuyển hóa chính của osimertinib qua oxy hóa khử alkyl hóa. ít nhất 12 thành phần đã được quan sát thấy trong nước tiểu gộp mẫu phân người với 5 thành phần chiếm > 1% liều trong đó osimertinib dạng không đổi, AZ5104 và AZ7550, chiếm khoảng 1,9; 6,6 2,7% liều trong khi sản phẩm công cysteinyl khép (M21) một chất chuyển hóa chưa (M25) chiếm tỷ lệ tương ứng 1,5% 1,9% liều

Dựa trên các nghiên cứu in vitro, osimertinib một chất ức chế cạnh tranh của CYP 3A4/5 nhưng không ức chế CYP1A2, 2A6, 2B6, 2C8, 29, 2C19, 2D6 2E1 ở các nồng độ liên quan về mặt lâm sàng. Dựa trên các nghiên cứu in vitro, osimertinib không phải một chất ức chế UGT1A1 UGT2B7 nồng độ lâm sàng liên quan đến gan. UGT1A1 thể gây ra ức chế trên ruột nhưng tác động lâm sàng chưa được biết

Thải trừ

Sau khi uống một liều duy nhất 20 mg, 67,8% liều đã được phát hiện trong phân (1,2% dạng không đổi), trong khi 14,2% liều dùng (0,8% dạng không đổi) đã được tìm thấy trong nước tiểu sau 84 ngày kể từ ngày thu mẫu. Osimertinib không đổi chiếm khoảng 2% của quá trình thải trừ với 0,8% trong nước tiểu 1,2% trong phân

Tương tác với protein vận chuyển

Các nghiên cứu in vitro cho thấy osimertinib không phải chất nền của CATP1B1 và OATP1B3. In vitro, osimertinib không ức chế OAT1, CAT3, OATP1B1, CATP1B3, MATE1, 0CT2 MATE2K các nồng độ liên quan về lâm sàng

Tác động của osimertinib trên P-gp và BCRP

Dựa trên các nghiên cứu in vitro, osimertinib một chất nền của Pgp BCRP, nhưng lẽ không gây tương tác thuốc trên lâm sàng với các thuốc khác do osimertinib tại các mức liều lâm sàng. Dựa trên dữ liệu in vitro, osimertinib một chất ức chế BCRP Pgp (xem phà Tương tác, tương kỵ của thuốc)

Trên các nhóm dân số đặc biệt

Trong một phân tích dược động học trên dân số nghiên cứu (n=1367), không xác định mối liên hệ ý nghĩa lâm sàng giữa mức tiếp xúc trạng thái hằng định được dự đoán (AUCss) tuổi tác của bệnh nhân (2591 tuổi), giới tính (nữ 65%), chủng tộc (bao gồm da trắng, chủng tộc châu Á, Nhật Bản, Trung Quốc bệnh nhân không phải da trắng không thuộc chủng tộc châu Á), bước điều trị tình trạng hút thuốc (người hiện tại hút thuốc n=34, người từng hút thuốc n=419). Phân tích PK trên dân số nghiên cứu cho thấy trọng lượng thể một biến độc lập (covariate) đáng kể với AUCss osimertinib dkiến theo trọng lượng thể từ 88 kg đến 43 kg (điểm phân vị (quantiles) 95% đến 5%) đã thay đổi ít hơn 20% khi so sánh với các AUCss theo trọng lượng cơ thể trung vị là 61 kg. Xem xét các điểm từ nhỏ nhất đến cao nhất của trọng lượng thể (từ <43 kg đến >88 kg), tỷ lệ chất chuyển a AZ5104 dao động từ 11,8% xuống còn 9,6% trong khi đối với AZ7550, tỷ lệ này dao động tương ứng từ 12,8% xuống còn 8,1%. Dựa trên một phân tích PK dân số, albumin huyết thanh được xác định một biến độc lập (covariate) đáng kể với AUCss osimertinib dự kiến thay đổi từ <30% theo mức albumin tương ứng từ 29 đến 46 g/l (điểm phân vị (quantiles) 95% đến 5%) khi so sánh với AUCss mức albumin trung vị căn bản 39 g/l. Những thay đổi về mức tiếp xúc này do trọng lượng thể hoặc sự khác biệt albumin bản không được xem liên quan về lâm sàng

Bệnh nhân suy gan

Osimertinib được thải trừ chủ yếu qua gan. Trong một thử nghiệm lâm sàng, bệnh nhân với các loại khối u rắn tiến triển khác nhau suy gan mức độ nhẹ (Child Pugh A, điểm trung bình = 5,3; n = 7) hoặc suy gan mức độ trung bình (Child Pugh B, điểm trung bình = 8,2; n = 5) đã không tăng mức tiếp xúc so với bệnh nhân chức năng gan bình thường (n = 10) sau khi dùng một liều Tagrix 80 mg duy nhất. Tỷ lệ trung bình nhân (90% CI) của AUC Cmax của osimertinib 63,3% (47,3; 84,5) 51,4% (36,6; 72,3) bệnh nhân suy gan nhẹ 68,4% (49,6; 94,2) và 60,7% (41,6; 88,6) ở bệnh nhân suy gan trung bình; đối với chất chuyển hóa AZ5104, AUC và Cmax 66,5% (43,4; 101,9) 66,3% (45,3; 96,9) bệnh nhân suy gan nhẹ 50,9% (31,7; 81,6) 44,0% (28,9; 67,1) bệnh nhân suy gan trung bình so với mức tiếp xúc ở bệnh nhân chức năng gan bình thường. Dựa trên phân tích PK dân số, không mối quan hệ giữa các dấu chỉ của chức năng gan (ALT, AST, bilirubin) mức tiếp xúc osimertinib. Các dấu chỉ của chức năng gan (albumin huyết thanh) cho thấy tác động trên dược động học của osimertinib. Các nghiên cứu lâm sàng được thực hiện đã loại trừ bệnh nhân AST hoặc ALI >2,5 lần giới hạn trên của bình thường (ULN), hoặc nếu do bệnh ác tính tiềm ẩn, đã loại trừ bệnh nhân AST hoặc ALT >5,0x ULN hoặc Với bilirubin toàn phần >1,5x ULN. Dựa trên phân tích dược động học của 134 bệnh nhân suy gan nhẹ, 8 bệnh nhân suy gan trung bình 1216 bệnh nhân chức năng gan bình thường, mức osimertinib tương tự nhau. Không dữ liệu sẵn trên bệnh nhân suy gan nặng (xem phần Cách dùng, liều dùng)

Bệnh nhân suy thận

Trong một thử nghiệm lâm sàng, ghi nhận AUC tăng gấp 1,85 lần (90% CI; 0,94, 3,64) Cmax tăng gấp 1,19 lần (90% CI: 0,69, 2,07) trên các bệnh nhân suy thận nặng (CLcr 15 đến nhỏ hơn 30 mL/min; n=7) so với các bệnh nhân chức năng thận bình thường (CLcr lớn hơn hoặc bằng 90 ml/phút, n=8) sau khi sử dụng một liều Tagrix 80 mg đường uống duy nhất. Hơn nữa,dựa trên phân tích dược động dân số của 593 bệnh nhân suy thận nhẹ (CLcr 60 đến nhỏ hơn 90 mL/phút), 254 bệnh nhân suy thận vừa (CLcr 30 đến nhỏ hơn 60 mL/phút), 5 bệnh nhân suy thận nặng (CLcr 15 đến nhỏ hơn 30 mL/phút) 502 bệnh nhân chức năng thận bình thường (lớn hơn hoặc bằng 90 ml/phút), mức tiếp xúc osimertinib tương tự nhau. Các thử nghiệm lâm sàng này không bao gồm bệnh nhân CLcr nhỏ hơn hoặc bằng 10 mL/phút.

[/su_expand]

[section]

[gap height=”0px”]

[row]

[col span__sm=”12″ depth=”3″]

[gap height=”35px”]

[ux_banner height=”400px” height__sm=”600px” bg_color=”rgb(255,255,255)”]

[text_box text_color=”dark” width=”86″ width__sm=”69″ position_x=”5″ position_x__sm=”50″ position_y=”5″ position_y__sm=”10″]

Bạn vẫn còn có câu hỏi?

Chúng tôi luôn luôn hạnh phúc được hỗ trợ và tư vấn cho bạn mọi lúc, mọi nơi. Nhà thuốc Bạch Mai hoạt động 24/7 qua tin nhắn và Email. Bạn muốn trao đổi trực tiếp với tư vấn: Thứ 2 – thứ 6, từ 9h00 đến 16h30

 

[su_row][su_column size=”1/2″ center=”no” class=””][su_button url=”https://m.me/nhathuocbachmai.vn” background=”#008800″ color=”#ffffff” icon=”icon: user-md” desc=”Bấm vào để chat với tư vấn hỗ trợ 24/7“]Tel: (024) 6328 0499[/su_button][/su_column] [su_column size=”1/2″ center=”no” class=””][su_button url=”https://mypill.vn/gui-don-thuoc/” background=”#ffffff” color=”#555555″ icon=”icon: facebook-messenger” icon_color=”#555555″ desc=”Gửi đơn thuốc và nhận thuốc tại nhà“]Dịch vụ  MyPill™[/su_button][/su_column][/su_row]

 

[follow style=”small” facebook=”https://facebook.com/nhathuocbachmai.vn” instagram=”https://g.page/NhathuoccBachMai?gm” tiktok=”https://www.tiktok.com/@nhathuocbachmai.vn” twitter=”https://twitter.com/nhathuocbachmai” linkedin=”https://www.linkedin.com/feed/?trk=nav_back_to_linkedin” email=”nhathuocbachmai.vn@gmail.com” phone=”02463280499″ pinterest=”x” youtube=”https://youtube.com/channel/UCUmuXddqBk0HW7uXaJDY3Sw?sub_confirmation=1″]

[/text_box]

[/ux_banner]

[/col]

[/row]

[/section]


Đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Chưa có đánh giá nào.

error: Nội dung đã được bảo vệ !
Mua theo đơn (024) 6328 0499 Messenger Chat Zalo